Chuyển đến nội dung chính

Bài thuốc phòng trị táo bón

Táo bón là chứng bệnh hay gặp ở người cao tuổi do ngại vận động và hay ăn đồ khô, thức ăn cay nóng…; người ăn ít rau xanh, thiếu chất xơ; trẻ nhỏ ăn sữa bò, phụ nữ sau sinh huyết thiếu; ngoài ra còn gặp ở người có thói quen nhịn đại tiện, do nghề nghiệp, do đi du lịch đường xa…; lạm dụng thuốc xổ, thuốc lợi tiểu, thuốc kháng viêm…; người có bệnh lý đại tràng, trĩ…

Sách Hải Thượng Lãn Ông viết: “Chứng đại tiện táo kết có khi vì nóng, vì lạnh, vì khí vì huyết vì phong… nhưng đều là âm huyết khô ráo… Có huyết thì nhuận, thiếu huyết thì táo. Do vậy, phòng trị táo bón ngoài chữa nguyên nhân cần phải dưỡng huyết sinh tân dịch.

Sau đây là một số bài thuốc trị theo từng thể

Nếu do “nhiệt táo”: thường gặp người vốn nóng nhiệt, hay ăn nhiều đồ cay nóng khiến ruột khô nóng mà táo bón… Biểu hiện đi cầu phân khô cứng, tiểu vàng, người nóng, dùng bài Ma tử nhân hoàn gia vị: ma tử nhân (vừng đen) 12g, hạnh nhân 8g, hậu phác 8g, đại hoàng 6g, chỉ thực 6g, bạch thược 10g. Sắc uống.

Nếu do “huyết hư táo”: thường gặp người gầy, đại tiện phân khô cứng, huyết thiếu, hay bị hoa mắt chóng mặt. Phép trị là dưỡng huyết, nhuận táo… Dùng bài Tứ vật thang gia vị: thục địa 16g, đương quy 10g, xuyên khung 10g, bạch thược 10g, bá tử nhân 12g, vừng đen 12g. Sắc uống.

Nếu do “khí hư táo”: thường gặp ở người thể chất yếu, ăn kém, da nhợt nhạt, đại tiện phân không cứng nhưng phải rặn nhiều, cầu xong người mệt vã mồ hôi… Nguyên nhân do tỳ khí hư, công năng vận hoá kém, không sinh hoá tân dịch mà bón kết. Phép trị: ích khí nhuận tràng. Dùng bài Bổ trung ích khí thang gia vị: đảng sâm 12g, hoàng kỳ 12g, đương quy 12g, bạch truật 12g, thăng ma 10g, sài hồ 10g, trần bì 6g, cam thảo 6g, gia thêm vừng đen, mật ong. Sắc uống.Hạnh nhân là vị thuốc trong bài “Ma tử nhân hoàn” trị táo bón do nóng nhiệt, hay ăn nhiều đồ cay nóng.

Hạnh nhân là vị thuốc trong bài “Ma tử nhân hoàn” trị táo bón do nóng nhiệt, hay ăn nhiều đồ cay nóng.

Kinh nghiệm dân gian phòng trị táo bón

Nếu do “nhiệt táo”, nên ăn mát nhuận tràng. Dùng bài lá dâu, mè đen mỗi vị 20 - 30g sắc uống hoặc món chè lá nha đam với đậu xanh.

Nếu do “hàn táo”, dùng vị có tác dụng ôn bổ nhuận tràng, tốt nhất nên ăn cháo gạo lứt muối mè hoặc uống 1 thìa mật ong pha với nước ấm vào buổi sáng… Ngoài ra, có thể xoa bụng, tập thóp bụng.

Một số món ăn phòng trị táo bón

Nên duy trì chế độ ăn nhiều rau trái cây tươi và uống đủ nước. Hằng ngày có thể chọn món ăn như sau:

Nếu do “nhiệt táo”, nên ăn vị bổ, mát nhuận trường, giàu chất xơ, lợi gan mật như mồng tơi, rau đay, mướp hương, rau lang, dấp cá, cà chua, cà tím, lô hội…; uống nước atisô, râu mèo, nhân trần, tăng cường ăn rau củ quả tươi, những vị chua, đắng có tính mát, thanh nhiệt.

Nếu do “hàn táo”, nên dùng thức ăn ôn bổ tỳ vị, dưỡng huyết, giàu chất xơ như: cháo gạo lứt, mè đen, các loại ngũ cốc, đậu, mè còn nguyên vỏ lụa… Ăn rau củ quả, những loại thường có vị ngọt, cay đều có tính ấm, hoặc rau củ quả nên chế biến xào, luộc cho thêm gừng và gia vị cay ấm khử bớt tính lạnh.

Lương y Minh Phúc

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Thuốc Đông y điều trị viêm phế quản

Trong thời tiết mùa đông, nhiệt độ trong ngày chênh lệch lớn, nóng lạnh thay đổi đột ngột khiến mọi người, đặc biệt là trẻ em và người già yếu dễ mắc viêm phế quản. Câu hỏi mà nhiều độc giả quan tâm là điều trị bằng YHCT có mang lại hiệu quả với bệnh viêm phế quản hay không khi mà việc lạm dụng kháng sinh tại nước ta đang gia tăng và nhiều cảnh báo nguy cơ kháng thuốc? Bài viết này sẽ cung cấp một số thông tin giúp bạn đọc hiểu rõ hơn về các phương pháp của YHCT trong điều trị viêm phế quản. Bệnh viêm phế quản là tình trạng viêm nhiễm cấp hoặc mạn tính niêm mạc đường thở từ thanh quản trở xuống tới nhu mô phổi. Căn nguyên gây viêm phế quản thường là do virut, vi khuẩn. Đây là bệnh lý nhiễm khuẩn đường hô hấp thường gặp khi thời tiết chuyển mùa. Theo YHCT, viêm phế quản thuộc phạm vi chứng “khái thấu” và “đàm ẩm”. Theo YHCT, nguyên nhân gây bệnh bên ngoài chủ yếu do cảm thụ phải tà khí của lục dâm như ngoại cảm phong hàn, phong nhiệt. Những yếu tố này làm cho phế khí bị ngưng trệ, mất t...

Một số bài thuốc trị thủy đậu

Thủy đậu là loại bệnh truyền nhiễm, hay gặp vào mùa đông - xuân, do virut Varicella zoster gây ra. Trẻ em từ 1 - 5 tuổi hay mắc, với chứng trạng chủ yếu là những nốt phỏng dạ (bào chẩn). Y học cổ truyền có nhiều bài thuốc chữa bệnh này rất hiệu quả, xin giới thiệu để bạn đọc tham khảo, áp dụng khi cần thiết. Theo Y học cổ truyền, nguyên nhân gây bệnh thủy đậu là do phong nhiệt xâm phạm vào phế qua đường mũi miệng khi chuyển mùa. Bệnh thường gặp ở phần vệ và khí, rất ít khi gặp ở phần huyết. Bệnh thủy đậu theo thường gặp vào mùa đông - xuân. Trẻ lúc đầu có biểu hiện hắt hơi, sổ mũi, nhức đầu, rối loạn tiêu hóa; vài ngày sau xuất hiện những nốt đỏ nổi sau lưng, sau đó lan ra khắp người. Chính giữa các nốt đỏ có một bọng nước - gọi là bào chẩn; sau 3 - 4 ngày thì khô đi và bong ra; nốt này mọc, nốt kia bay. Nếu bị nặng có thể gây nhiễm trùng da, nhiễm trùng huyết làm viêm phổi, viêm não, viêm tiểu não… nguy hiểm đến tính mạng. Sau đây là một số bài thuốc trị theo từng giai đoạn: Khi tà ...

Bài thuốc chữa bệnh goute

Bệnh goute (gút) là bệnh rối loạn chuyển hóa và tăng lắng đọng các tinh thể acid uric tại các khớp. Theo Y học cổ truyền, bệnh gút gọi là “thống phong”, thuộc chứng tý. Nguyên nhân do phong, hàn và thấp làm ảnh hưởng đến công năng của can, thận và tỳ gây khí trệ huyết ứ và đàm trọc ách trở sinh bệnh. Sau đây là một số thuốc trị bệnh theo các thể: Thể phong thấp nhiệt: người bệnh đau khớp đột ngột, thường vào lúc nửa đêm, có khi phát sốt. Tại chỗ khớp: sưng nóng đỏ đau; lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng dày, mạch huyền sác. Phép chữa là thanh nhiệt trừ thấp, tiết trọc thông lạc. Dùng bài Thanh trọc thống tý thang: nhẫn đông đằng 30g, hoàng bá 15g, ý dĩ 24g, thổ phục linh 24g, huyền sâm 16g, đương quy 12g, một dược 10g, ngưu tất 12g, phòng kỷ 12g, tần giao 12g, thất diệp 24g. Sắc uống. Gút là bệnh rối loạn chuyển hoá và lắng đọng các tinh thể acid uric ở khớp. Đông y gọi là bệnh thống phong. Thể khí trệ trọc ứ: khớp sưng đau khiến người bệnh không đi lại được, hay tái phát, bệnh kéo dài dai dẳng,...