Chuyển đến nội dung chính

Công dụng ít biết của mật ong

Mật ong còn gọi là bách hoa cao hoặc bạch mật, thạch mật, là sản vật quý của tự nhiên, vừa là món ăn, vừa là vị thuốc. Mật ong quen thuộc với con người ở khắp nơi trên thế giới với nhiều ứng dụng trong đời sống và y dược.

Mật ong chứa nhiều protid, Theo Y học cổ truyền, mật ong có vị ngọt, tính bình, không độc; quy vào các kinh phế, tỳ, đại tràng; có công năng giải độc, nhuận phế, thông tiện và điều hòa các dược liệu khác, còn dùng để giải độc thuốc, trong đó có cả vị ô đầu, phụ tử.

Mật ong không chỉ là món ăn mà còn là vị thuốc tăng cường sức đề kháng của cơ thể và phòng chống nhiều bệnh.

Mật ong có thể dùng riêng hoặc phối hợp với các vị thuốc khác để điều trị nhiều chứng bệnh khác nhau: ho, nhiều đờm, ho khan, rát họng do viêm họng cấp mạn tính, viêm amidal... Táo bón do tỳ vị hư nhược, ruột bị nê trệ do nhu động ruột giảm, đau thượng vị. Còn dùng mật ong trị tăng huyết áp, mất ngủ, đau dây thần kinh... Ngoài ra, mật ong còn được dùng như một phụ liệu quý để chế biến một số vị dược liệu cũng như có trong thành phần của nhiều chế phẩm Đông dược. Do có hai công năng chính là kiện tỳ và ích khí phế nên mật ong được sử dụng như một phụ liệu quý để chế biến các vị thuốc có tác dụng quy vào hai kinh tỳ và vị.

Để làm tăng tác dụng quy kinh tỳ của các vị thuốc như bạch truật, hoàng kỳ, người ta đem bạch truật hoặc hoàng kỳ thái phiến rồi tẩm mật ong theo tỷ lệ nhất định (thông thường cứ 1kg thuốc phiến khô dùng từ 2 - 2,5kg mật ong đã được pha loãng bằng một lượng nhất định nước sạch). Trộn đều mật ong với các phiến thuốc, ủ khoảng 1 giờ cho ngấm mật đều rồi sao vàng đến khi bên ngoài phiến thuốc có màu vàng đậm, sờ không dính tay, vị ngọt, đắng nhẹ, mùi đặc trưng (bạch truật) hoặc vị ngọt, mùi thơm đặc trưng của mật ong (hoàng kỳ). Như vậy, hoàng kỳ, bạch truật được dùng trong cổ phương Bổ trung ích khí thang: hoàng kỳ (chích mật ong) 200g, cam thảo 100g; đương quy, đảng sâm, bạch truật (chích mật ong), trần bì, thăng ma, sài hồ, mỗi vị 60g cùng với mật ong làm hoàn, mỗi lần uống 15g. Có tác dụng điều bổ tỳ, vị, ích khí thăng dương; dùng trị tỳ vị hư nhược, trung khí hạ hãm, vô lực, kém ăn, phân hay sống, nát; các chứng sa giáng: sa dạ dày, tử cung, trĩ, lòi dom...

Để làm tăng tác dụng quy kinh phế của các vị thuốc như ma hoàng, tang bạch bì, tỳ bà diệp... cũng tiến hành chích mật ong với các vị thuốc này. Ví dụ, ma hoàng là vị thuốc có tác dụng làm ra mồ hôi, hạ sốt, giảm ho, đờm, suyễn tức; dùng trong các chứng cảm mạo phong hàn, sốt cao, mồ hôi không ra được... Song một khi muốn sử dụng tác dụng giảm ho, bình suyễn của ma hoàng trong các trường hợp viêm phế quản mạn tính với các triệu chứng ho nhiều, đờm nhiều, khó thở, ma hoàng sẽ được chích với mật ong (theo cách đã giới thiệu ở trên). Khi chích với mật ong, sức làm ra mồ hôi của ma hoàng sẽ giảm đi và lại tăng tác dụng chỉ ho, bình suyễn

GS.TS. Phạm Xuân Sinh




Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Thuốc Đông y điều trị viêm phế quản

Trong thời tiết mùa đông, nhiệt độ trong ngày chênh lệch lớn, nóng lạnh thay đổi đột ngột khiến mọi người, đặc biệt là trẻ em và người già yếu dễ mắc viêm phế quản. Câu hỏi mà nhiều độc giả quan tâm là điều trị bằng YHCT có mang lại hiệu quả với bệnh viêm phế quản hay không khi mà việc lạm dụng kháng sinh tại nước ta đang gia tăng và nhiều cảnh báo nguy cơ kháng thuốc? Bài viết này sẽ cung cấp một số thông tin giúp bạn đọc hiểu rõ hơn về các phương pháp của YHCT trong điều trị viêm phế quản. Bệnh viêm phế quản là tình trạng viêm nhiễm cấp hoặc mạn tính niêm mạc đường thở từ thanh quản trở xuống tới nhu mô phổi. Căn nguyên gây viêm phế quản thường là do virut, vi khuẩn. Đây là bệnh lý nhiễm khuẩn đường hô hấp thường gặp khi thời tiết chuyển mùa. Theo YHCT, viêm phế quản thuộc phạm vi chứng “khái thấu” và “đàm ẩm”. Theo YHCT, nguyên nhân gây bệnh bên ngoài chủ yếu do cảm thụ phải tà khí của lục dâm như ngoại cảm phong hàn, phong nhiệt. Những yếu tố này làm cho phế khí bị ngưng trệ, mất t...

Một số bài thuốc trị thủy đậu

Thủy đậu là loại bệnh truyền nhiễm, hay gặp vào mùa đông - xuân, do virut Varicella zoster gây ra. Trẻ em từ 1 - 5 tuổi hay mắc, với chứng trạng chủ yếu là những nốt phỏng dạ (bào chẩn). Y học cổ truyền có nhiều bài thuốc chữa bệnh này rất hiệu quả, xin giới thiệu để bạn đọc tham khảo, áp dụng khi cần thiết. Theo Y học cổ truyền, nguyên nhân gây bệnh thủy đậu là do phong nhiệt xâm phạm vào phế qua đường mũi miệng khi chuyển mùa. Bệnh thường gặp ở phần vệ và khí, rất ít khi gặp ở phần huyết. Bệnh thủy đậu theo thường gặp vào mùa đông - xuân. Trẻ lúc đầu có biểu hiện hắt hơi, sổ mũi, nhức đầu, rối loạn tiêu hóa; vài ngày sau xuất hiện những nốt đỏ nổi sau lưng, sau đó lan ra khắp người. Chính giữa các nốt đỏ có một bọng nước - gọi là bào chẩn; sau 3 - 4 ngày thì khô đi và bong ra; nốt này mọc, nốt kia bay. Nếu bị nặng có thể gây nhiễm trùng da, nhiễm trùng huyết làm viêm phổi, viêm não, viêm tiểu não… nguy hiểm đến tính mạng. Sau đây là một số bài thuốc trị theo từng giai đoạn: Khi tà ...

Bài thuốc chữa bệnh goute

Bệnh goute (gút) là bệnh rối loạn chuyển hóa và tăng lắng đọng các tinh thể acid uric tại các khớp. Theo Y học cổ truyền, bệnh gút gọi là “thống phong”, thuộc chứng tý. Nguyên nhân do phong, hàn và thấp làm ảnh hưởng đến công năng của can, thận và tỳ gây khí trệ huyết ứ và đàm trọc ách trở sinh bệnh. Sau đây là một số thuốc trị bệnh theo các thể: Thể phong thấp nhiệt: người bệnh đau khớp đột ngột, thường vào lúc nửa đêm, có khi phát sốt. Tại chỗ khớp: sưng nóng đỏ đau; lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng dày, mạch huyền sác. Phép chữa là thanh nhiệt trừ thấp, tiết trọc thông lạc. Dùng bài Thanh trọc thống tý thang: nhẫn đông đằng 30g, hoàng bá 15g, ý dĩ 24g, thổ phục linh 24g, huyền sâm 16g, đương quy 12g, một dược 10g, ngưu tất 12g, phòng kỷ 12g, tần giao 12g, thất diệp 24g. Sắc uống. Gút là bệnh rối loạn chuyển hoá và lắng đọng các tinh thể acid uric ở khớp. Đông y gọi là bệnh thống phong. Thể khí trệ trọc ứ: khớp sưng đau khiến người bệnh không đi lại được, hay tái phát, bệnh kéo dài dai dẳng,...